teksing junk

Tàu buồm Trung Quốc Teksing, không ai biết chính xác tên gốc con tàu là gì, nhưng đây thường được xem là một “Titanic phương Đông”. Tàu có cảng nhà – home port ở Hạ Môn, Phúc Kiến, dài 50m, 900 tấn! Lúc này ở Trung Quốc có nhiều biến động: Chiến tranh nha phiến lần 1, khởi nghĩa Thái Bình thiên quốc, xã hội bất ổn dẫn đến di dân hàng loạt. Năm 1822, con tàu xuất phát từ Hạ Môn, chở theo một lượng lớn đồ sứ, 200 thủy thủ cùng với 1600 di dân.

Ngày 6/2/1822, trên đường đến Jakarta, Indonesia, khi đang băng qua eo biển Gaspar, tàu đâm vào đá ngầm và chìm. Một chiếc tàu khác đi cùng đoàn và một con tàu Anh đi ngang qua đã cứu được khoảng 200 người, 1600 người thiệt mạng. Năm 1999, người ta đã trục vớt số đồ sứ trên tàu và bán đấu giá được $10 triệu! Ảnh: phần lớn các tranh vẽ Tây phương về các con tàu buồm Trung Quốc đều mang các chi tiết cường điệu thái quá, thiếu chính xác!

Keying junk

Keying – con tàu buồm Trung Quốc đặt theo tên (Ái tân giác la) Kỳ Anh, Hộ bộ thượng thư, lưỡng Quảng tổng đốc, Khâm sai đại thần, tham gia phái đoàn Trung Quốc đàm phán kết thúc Chiến tranh nha phiến lần 2, và vì chấp nhận những điều khoản vô cùng bất lợi, hoàng đế Hàm Phong đã ban cho ông ta được chết! Tàu Kỳ Anh là do người Anh mua lại từ TQ, 49 mét, 800 tấn! Năm 1846, với thủy thủ đoàn 12 người Anh, 30 người Quảng Đông đã làm một hành trình vòng qua mũi Hảo Vọng đến New York, Boston và sau đó quay về Anh. Ở đâu con tàu cũng được công chúng chào đón nhiệt liệt!

Vì lần đầu tiên có một con tàu Trung Quốc làm một hành trình lớn như thế! Nữ hoàng Victoria đến thăm tàu, nhiều sĩ quan hải quân Hoàng gia chạy thử tàu, và kết luận rằng Keying có khả năng đi biển ít nhất là tương đương, nếu không muốn nói là hơn các con tàu tốt nhất Anh quốc! Không khó đoán ra mục đích thật sự của việc mua tàu Keying, tàu sau đó được mổ xẻ ra để nghiên cứu, người Anh dù đang thống trị đại dương nhưng vẫn không ngừng học hỏi từ bất kỳ nguồn nào có thể! Tranh vẽ: đường cong của con tàu Keying bị cường điệu hóa quá mức, thực ra con tàu không cong đến vậy!

ningpo junk

Hồi đó trong group Thuyền buồm, có câu hỏi là: vì sao các thuyền buồm phương Tây xưa thường có rất nhiều tầng buồm, tàu buôn có 2, 3 tầng, còn tàu chiến thậm chí nhiều hơn, đến 4, 5 tầng?! Thế rồi ai cũng trả lời là: có nhiều tầng buồm để khi đánh nhau, có hư hại 1, 2 tầng thì cũng không sao, không hư hết, thậm chí cái câu trả lời ấy nó còn echo – vang vọng từ người này sang người khác! Em ngồi chờ xem ai đó có câu trả lời thỏa đáng hơn suốt một năm, mà trong group toàn “hiểu biết” cả, từ kỹ sư, kiến trúc sư cho đến nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, đủ cả… Giả sử bạn có một cây gậy gỗ đường kính 2cm, dài 1m thì có thể dùng tay bẻ gãy một cách dễ dàng!

Cũng cây gậy ấy mà chỉ dài 0.2m dùng tay có khi không bẻ gãy được! Đó gọi là sức bền vật liệu, một tấm vải buồm 5m gió khó giật rách, nhưng cũng tấm vải ấy mà dài 50m thì gió giật rách ngay! Đó là chuyện không cần phải là kỹ sư, chỉ cần kiến thức vận động, thực hành là hiểu được, các bố chỉ ưa nói chứ không suy nghĩ được cả những điều nhỏ! Em đợi một năm, không ai đưa ra được câu trả lời thích đáng, em “leave group” không vào nữa! Ảnh: tàu buồm Trung Quốc Ningpo, đóng năm 1753, 42m, 300 tấn, tàu buôn và cướp biển, tuy không lớn nhưng được xem là con tàu chạy nhanh nhất TQ, Ninh Ba có một cuộc đời dài đến… 185 năm với vô số sự kiện!

thương chiến

Nói tới nói lui, cuộc chiến thương mại này, Mỹ thực sự là… 没门 – không có cửa thắng! Để thắng một cuộc chiến thì hoặc là bạn phải mạnh, hoặc là bạn phải lỳ, mà Trung Quốc thì nó vừa mạnh bạo, lại vừa lỳ đòn. Giả như áp thuế cao chót vót thật, thì một thời gian, dân Mỹ chắc chắn sẽ đi biểu tình vì vật giá tăng cao, đời sống khó khăn! Còn TQ thì như truyền thống cả ngàn năm nay, sức chịu đựng của họ rất lớn, “bớt ăn bớt mặc” một chút có sao đâu, hoặc là quay vào trong phát triển thị trường quốc nội! Thuế quan và mậu dịch là chuyện vô cùng phức tạp, mình không hiểu mấy!

Phương Tây trước giờ vẫn tuyên truyền rằng mậu dịch là “win-win”, đôi bên cùng thắng! Ấy thế mà các luật lệ thương mại song phương là do chính họ soạn ra, rồi sổ toẹt luật lệ, áp đặt ý chí riêng cũng chính là họ! Trung Quốc lâu lâu cũng hùa theo, nói rằng mậu dịch là “win-win”, đôi bên cùng có lợi! Chỉ có riêng mỗi ku Nga là vô cùng thẳng thắn, nói thẳng rằng đây là cuộc chơi “zero-sum”, tổng bằng không, nếu một bên thắng thì bên kia chính là thua vậy! Chỉ mong là đôi bên ra “đòn gió” rồi nhanh chóng kết thúc thương chiến, không thì VN đứng ở giữa, “trâu bò đánh nhau…”

chiêu ứng từ

Vụ án chấn động xảy ra năm 1851 thời Tự Đức, nhà vua nhận được tờ tấu do Binh bộ chuyển báo: Chưởng vệ Phạm Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều trình tấu đã đánh đuổi ba tàu hải tặc khi đang đi tuần ở vùng biển Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Xem xong tờ tâu nhà vua liền sinh nghi vì đánh nhau với hải tặc mà không ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch không một người bị bắt làm tù binh, bèn nhấc bút phê: giao cho Binh bộ điều tra cho rõ sự tình. Phúc trình từ Binh bộ cho rằng chiếc tàu thu được giống tàu buôn hơn là tàu giặc. Ngay lúc ấy, một phụ nữ đến nha môn cáo giác. Nguyên bà ta là một Hoa kiều, mở tiệm ăn ở phố Gia Hội (Huế), chồng cũng là Hoa kiều đi thuyền về nước, bặt tin đã lâu.

Theo lời bà kể, viên đội trưởng vệ Tuyển Phong tên là Trần Hựu đến ăn uống ở quán nhưng không đủ tiền trả nên rút chiếc nhẫn cầm tạm! Bà chủ xem kỹ nhận ra chiếc nhẫn quý của chồng, Trần Hựu ban đầu chối, nhưng sau lại chịu theo bà đến nha môn trình báo. Trần Hựu khai rằng: ngày 16 tháng 7, 1851, thuyền quan đậu ở cửa Thị Nại, được tin có ba thuyền lạ đậu ngoài hải phận đảo Thanh Dư, chưởng vệ Phạm Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều lập tức đuổi theo, bắn bằng súng thần công nhưng ba chiếc thuyền kia không đáp trả, chỉ bỏ chạy! Sau 3 ngày truy đuổi thì hai chiếc chạy thoát, một chiếc bị bắt! Cập lại gần, Phạm Xích ra lệnh cho những người bên thuyền của Trung Quốc sang trình diện, họ chấp hành lệnh!

Ba mươi ba người sang trình thẻ, nói là nhà buôn ở Thừa Thiên xin về thăm quê và đã được cấp phép! Dù đã trình thẻ nhưng tổng cộng, 108 người Hoa trên tàu đều bị chém chết rồi quăng xuống biển, toàn bộ hàng hóa được chuyển sang chiếc thuyền Bằng Đoàn của quan binh, thuyền buôn được sơn lại màu đen cho giống tàu hải tặc và dẫn về vụng Chiêm Dữ. Vua Tự Đức nổi cơn thịnh nộ, giao Tam pháp ty xét xử, án xử rất nghiêm, Thiều và Xích đều bị lăng trì, nhiều người bị xử chém, nhưng cũng có một số quan binh được tha vì đã chống lệnh, từ chối giết người! Từ đó, cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam đi đâu cũng xây Chiêu Ứng từ, như một kiểu ấm ức, từ Huế, Đà Nẵng, Hội An, vào tới trong Nam, tận Cà Mau cũng có!

franchise

Từ lâu, thứ duy nhất ở VN đã được hiện đại hóa, công nghiệp hóa vô cùng sâu rộng, đó chính là các loại công nghệ đĩ điếm, lưu manh! Nó đã được phát triển đến mức phổ cập, trở thành dây chuyền công nghiệp! Đã trở thành bài bản được truyền dạy cho nhau, thậm chí đến mức đã trở thành “thương hiệu nhượng quyền”: tất cả đều đã được làm sẵn, từ các sản phẩm giả cầy cho đến bao bì, quảng cáo, chỉ cần mua về và đi “lùa” người khác thôi!

double ender

Thuật ngữ double-ender là nói về những con thuyền mà đầu – đuôi đều thon nhọn như nhau, trái ngược với những kiểu thiết kế đầu nhọn, đuôi vát (hay đầu đuôi đều vát). Từ quan điểm thiết kế thực dụng thì phần đuôi (hay đầu) nhọn này được gọi là “gỗ chết – deadwood” vì có vẻ như, nó không thực sự tham gia vào quá trình “vận hành” của con thuyền, chỉ phần nằm dưới mặt nước mới ảnh hưởng đến độ nổi, độ cản nước, đến tốc độ con tàu. Và gọi là “gỗ chết” là vì nó làm tăng đáng kể chiều dài tàu mà không tăng sức chứa, tải trọng. Rất nhiều thuyền có thiết kế đuôi vát, thứ nhất là để giảm chiều dài con tàu, thứ nhì là để tăng tải trọng hữu ích.

Nói là vậy, nhưng thực tế, phần “gỗ chết” này không thực sự “chết “, tưởng tượng trong sóng gió phức tạp, khi con tàu bị nhấn chìm hoàn toàn trong nước, thì phần gỗ này lập tức có tác dụng. Lúc đó, với một con thuyền đuôi vát… Vì độ nổi giữa đầu và đuôi khác nhau, dẫn đến thuyền kém cân bằng, ổn định khi sóng lớn. Chính vì thế nên quay lại 100 năm trước, trước khi khoa học kỹ thuật phát triển và đưa ra nhiều “giải pháp” mới, thì đa số các thuyền buồm “viễn dương” nhỏ đều có thiết kế double-ender, đầu đuôi thon nhọn như nhau! Nó ăn sâu vào tiềm thức của người đi biển, “form and function”, muốn “chạy tốt” thì đầu tiên là phải… “nhìn đẹp” cái đã! :D

pilot cutter

Ngày xưa tại nước Anh, các con tàu hoa tiêu – pilot cutter thuộc vào loại tàu buồm nhỏ tốt nhất thế giới. Vì sao như vậy, vì nghề hoa tiêu thực sự là đem lại lợi nhuận lớn. Các con tàu hàng, chở lượng hàng hóa trị giá hàng chục triệu bảng hay nhiều hơn, làm các hành trình nhiều ngàn hải lý ngoài đại dương. Biển lớn có cái nguy hiểm của biển lớn, nhưng biển nhỏ: nội thủy, vùng nước ven bờ, vịnh, sông ngòi… có cái nguy hiểm của biển nhỏ, nếu không thông thuộc luồng lạch địa phương sẽ dễ dẫn đến tai nạn. Nên các con tàu lớn đã đi nhiều ngàn hải lý thường không tiếc gì một vài món tiền “nhỏ” để thuê hoa tiêu địa phương dẫn đường đến đích an toàn.

Cái nghề pilot ngày xưa là thế: bất kể điều kiện thời tiết thế nào, dù mưa gió bão bùng mà thấy tàu hàng ngoài khơi, là dùng con tàu buồm nhỏ chạy ra, làm dịch vụ “taxi” chở viên hoa tiêu cập mạn lên tàu lớn. Nên các tàu buồm pilot cutter xưa đều là… nhỏ mà có võ, thiết kế của nó là cả một sự chắt lọc, tiến hóa theo thời gian, có khả năng đi biển trong những điều kiện thời tiết phức tạp. Và từ xa xưa, nghề hoa tiêu tuy có vài nguy hiểm, nhưng được xem là kiếm tiền dễ! Nhưng đó là ngày xưa thôi, ngày nay những con tàu hàng siêu lớn, lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm ngàn tấn! Tàu quá lớn như thế thường chỉ muốn cập cảng nước sâu mà thôi!

Họ rất ngần ngại, không muốn đi vào trong nội thủy, vào vùng nước vừa hẹp vừa nông, rất khó xoay xở với cái kích thước khổng lồ của con tàu, rất dễ gây ra những tai nạn, tổn thất không đáng có! Và nghề hoa tiêu, với sự xuất hiện của thuyền máy công suất lớn, cùng với nhiều máy móc, thiết bị hiện đại, không còn là một cái nghề “khó khăn” có thể mang lại nhiều lợi nhuận như trước! Tới tận bây giờ mà vẫn còn mang tư tưởng “người khác có, ta cũng phải có”, tỉnh nào cũng muốn xây sân bay, cảng biển riêng, rồi ngồi đó “thu tiền xâu”, lạc hậu lắm rồi. Không chỉ lạc hậu mà còn máy móc, ngu xuẩn, kinh tế thế giới đã bước sang một mức độ tối ưu hoàn toàn khác…

30/4

Người ngoài có thể họ không hiểu về Chiến tranh VN, chứ với người trong cuộc, đó chỉ là một vòng lặp “for” vô cùng đơn giản: năm 1964 thử lửa với quân Mỹ ở Quảng Nam một lần đầu, năm 1968 đánh một trận lớn Mậu Thân, năm 1972 lại đánh một trận lớn “Mùa hè đỏ lửa”, và theo dự kiến là thống nhất đất nước trong năm 1976, nhưng tình hình đã phát triển nhanh hơn thế. Những vòng lặp theo chu kỳ 4 năm một lần này là thấy rất rõ, cứ gom gom “đủ lúa” là lại đi đánh một trận lớn (thực sự thì VN không có đủ nguồn lực để mà dàn trải)!

Và cũng có thể có thêm một nguyên nhân nữa là dự tính thời điểm song hành với các kỳ bầu cử Tổng thống Mỹ cứ 4 năm một lần, cứ lặp như thế cho đến khi nào thành công thì thôi. Giờ chúng nó nói như đúng rồi vậy: ah, người Mỹ cũng đã phải chịu nhiều đau khổ trong chiến tranh VN, đau khổ kiểu: nhà giàu đứt tay, ăn mày đổ ruột! Khoảng 16 triệu tấn thuốc nổ đã được dùng ở VN (là tính khối lượng thuốc nổ chứ không phải khối lượng vũ khí), nhiều gấp 3, 4 lần tổng Thế chiến 2 cộng lại, trung bình mỗi người VN chịu khoảng 400 kg!

địa đạo

Đây là một trong số rất ít những phim mình ra rạp xem đàng hoàng, đầu tiên là “Hà Nội trong mắt ai”, phát hành 1983… ah, mà đó là chuyện của 40 năm trước! Nhìn chung với một phim Việt Nam thì Địa đạo rất ổn, từ các cảnh quay, ánh sáng, màu sắc cho đến hiệu ứng khói lửa, bom nổ, đường đạn bay… đều rất thực và đẹp mắt. Câu chuyện kể lại trong phim là dựa trên nền của những sự kiện lịch sử có thật, được nói rõ trong phần giới thiệu, nhóm điệp báo H.63 của Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) và Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) trong nhiều năm, sử dụng nhiều couriers – liên lạc viên để chạy mật thư từ Sài Gòn ra Củ Chi, từ đây mật thư sẽ được gởi qua sóng radio ra Hà Nội.

Một nguồn phát sóng radio hiện diện suốt nhiều năm liền tại Củ Chi như một cái gai trong mắt người Mỹ và họ phải làm mọi cách để nhổ cái gai đó! Như Nguyễn Văn Thương, một liên lạc viên thường xuyên chạy xe Honda giữa Sài Gòn và Củ Chi, một hôm bị người Mỹ phát hiện và theo dõi! Viên phi công trực thăng vì nôn nóng muốn đổ quân xuống bắt sống nên đã phạm phải một sai lầm chết người, hạ thấp trực thăng xuống sát mặt lộ, từ khoảng cách rất gần, Hai Thương nổ liền 2 phát súng ngắn hạ trực thăng rơi! Không hiểu sao chi tiết đắt giá như vậy lại không được đưa vào phim, có lẽ vì số phận Hai Thương là một câu chuyện bi thảm khác!

Tình huống cảm động nhất trong phim theo mình là chuyện Út Khờ mang thai, nhưng chưa rõ ai là cha. Trước tình huống như thế, đội du kích đã quyết định tổ chức… một đám cưới giả giữa Út Khờ với… đội trưởng Bảy Theo! Một cái đám cưới giả được quyết định và tổ chức thành công sau… 5 giây, có cả hoa, cả bánh! Đã có người đứng ra “nhận trách nhiệm”, trước sự việc đã rồi, cấp trên không thể nói gì hơn được và theo thông lệ, phải rút Út Khờ ra khỏi vùng giao chiến, như thế hai mẹ con cô ấy sẽ có cơ hội sống! Đó chính là tâm tư, tình cảm của những người du kích, họ không có chức vụ, cấp bậc gì để mất và sẵn sàng bao che đồng đội như vậy!

Chuyện nhiều “giang cư mận” phê phán cảnh nóng trong phim, nói như đúng rồi luôn. Nếu đã xem phim thì sẽ thấy mấy cái “cảnh nóng” đó chỉ mang tính ước lệ, tượng trưng mà thôi, còn chưa lộ chút da thịt nào. Nếu đây là đơn vị quân đội chính quy thì chắc chắn sẽ có vài án kỷ luật từ trên rơi xuống. Nhưng đây lại là du kích, các căn hầm đào ngay dưới nhà của họ, hàng ngày họ vẫn chui lên trồng rau, nuôi gà, v.v.. đó chính là cuộc sống thường ngày của họ, nếu không thì rất nhiều những đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh ở Củ Chi từ đâu mà chui ra!? Nên kiểu có nhiều người không hiểu gì về thực tế lịch sử nhưng vẫn cứ ưa tìm chuyện để nói ra nói vào!

Những lời thoại trong phim có nhiều chỗ khá đạt, như đoạn một cô du kích, bị ép tập các bài võ cận chiến với dao găm quá nhiều đã than thở vì mệt: tụi em chỉ là du kích thôi, đâu có phải bộ đội đặc công đâu mà… Đội trưởng Bảy Theo quát: mày đi nói chuyện đó với tụi Mỹ á, có khi nó còn gắn cho mày huy chương! :D Cái băn khoăn xuyên suốt bộ phim của người anh cả, đội trưởng luôn là: tụi nó còn nhỏ quá, còn “xanh” quá, sợ “chơi không lại tụi Mỹ”. Tuy phần phụ đề tiếng Anh không tệ, nhưng vẫn phải nói là chưa thực sự được như ý tôi, chưa tìm được cách truyền đạt tốt sắc thái ý nghĩa của lời thoại gốc, nhiều chỗ vẫn kiểu… dịch cho có, rất khiên cưỡng!

Mình thuộc dạng coi phim vô cùng lý tính và xét nét, nên không khó nhận ra một vài chỗ còn chưa được hợp lý hay có chút khiên cưỡng trong phim. Và những chỗ sai về vật lý đương nhiên nhìn ra khá nhiều, như cách nấu thuốc nổ dẻo (plastic explosive) trong phim thì hầu như chắc chắn là nó sẽ nổ, cuối phim có chiếu lại một đoạn tài liệu đen trắng cũ, chính trong đoạn phim tài liệu đó lại thể hiện cách thức tương đối đúng! Nhưng tóm lại đây là một phim rất đáng xem, dù các cảnh quay có hơi “rubato” (thuật ngữ âm nhạc), nói một cách gần đúng là nhịp độ không được chuẩn, các tình huống thắt nút, cao trào lý ra vẫn có thể làm cho hấp dẫn hơn!

Về chi tiết cuối phim, một người lính Mỹ trong đội quân “chuột chũi” chui vào trong địa đạo, bị thương và được cứu sống, cho nằm trên chiếc bè ven sông, nhiều người cho rằng chi tiết này “nhân văn” nhưng hơi “cường điệu”. Theo tôi thì, không có gì là “cường điệu”, thậm chí cũng chẳng có gì là “nhân văn” trong tình huống này, đó chỉ là sự thật thực dụng của chiến tranh. Nên nhớ một tù binh Mỹ còn sống dù thế nào cũng là một “tài sản đáng giá”, có thể dùng để “trao đổi” khá nhiều thứ, kể cả các quân nhân Việt Nam bị phía Mỹ bắt. Thế nên phía Việt Nam nhiều khi phải rất cố gắng để giữ cho tù binh còn sống để có thể làm món hàng trao đổi!

Trong thời gian 15 năm, từ 1961 đến 1975, chỉ riêng mạng lưới điệp báo H.63 đã sử dụng khoảng 45 couriers – liên lạc viên để truyền tin, 27 người trong số đó bị bắt, tra tấn… nhưng không một ai khai ra điều gì, mạng lưới vẫn đứng vững và thông tin không ngừng tuôn chảy. Nếu tính rộng ra cả số du kích, bộ đội đã hy sinh khi tham gia bảo vệ đường dây thông tin này, trực tiếp hay gián tiếp, có khi thiệt hại là không đo đếm được! Phim chỉ là một lát cắt nhỏ, chỉ vài tuần trên một dòng chảy thời gian nhiều chục năm, chỉ vài khoảnh khắc đại diện, ngắn gọn cho thấy cha ông chúng ta đã sống, đã chiến đấu chống ngoại xâm như thế nào!