sách đọc ngàn chương, đường đi vạn dặm

Xem blog của một cô gái TQ trẻ làm nghề lái xe tải đường trường. Trước đây là nghề tương đối nặng nhọc và nguy hiểm, nhưng giờ ở TQ ngay phụ nữ cũng làm được chứng tỏ môi trường xã hội và hạ tầng cơ sở rất an toàn và đầy đủ. Đầu tiên nghe cô ấy nói: “Sách đọc ngàn chương” là một việc khó khăn (nếu dễ thì đã không làm nghề lái xe tải), nhưng “Đường đi vạn dặm” cũng không phải chuyện dễ dàng!

Sách đọc ngàn chương, Đường đi vạn dặm – Độc vạn quyển thư, Hành vạn lý lộ – 读万卷书行万里路 – Nhưng giờ thời đại đã hoàn toàn khác, khoa học kỹ thuật sẽ có những đổi thay không ai có thể ngờ tới, không chỉ chuyện “đọc sách, đi đường” mà vô số những khía cạnh khác cũng sẽ hoàn toàn thay đổi. Trước mắt, không biết cái công việc lái xe này làm được bao lâu vì sẽ sớm bị robot thay thế mà thôi.

World Humanoid Robot Games

TQ đang tổ chức “Thế vận hội” lần thứ 2 cho robot, quy tụ VĐV từ 16 quốc gia! Màn nghi lễ: mang bảng hiệu diễu hành chào sân, một robot đại diện đọc lời tuyên thệ trước khi thi đấu: tôi xin tuyên thệ, thi đấu trung thực, tôn trọng đối thủ, tôn trọng trọng tài…

Rồi sau đó là các màn: điền kinh, chạy, nhảy xa, nhảy cao, bóng đá, boxing, võ thuật etc… y như Thế vận hội thật của con người! Thi thoảng lại có vài con robot bị “chấn thương” (hỏng hóc, tóe lửa), cần người chăm sóc, bỏ lên cáng khiêng ra ngoài sân y như người vậy!

thi kiếm kiều

Đôi lúc tôi tự hỏi, những câu chuyện trong các phim Dân quốc của Trung Quốc thực đến mức nào, đều chỉ là tiểu thuyết, giả tưởng, hay vẫn phản ánh thực tế xã hội ở mức độ nhất định. Thực đến đâu thì còn tùy nhận định của mỗi người, nhưng câu chuyện của Thi Kiếm Kiều sau đây hoàn toàn là sự thật. Sinh năm 1905, năm 20 tuổi, cô gái Thi Kiếm Kiều chứng kiến cha mình, Thi Tòng Tân, bị lãnh chúa quân phiệt Tôn Truyền Phương xử tử, bêu đầu thị chúng. Suốt 10 năm ròng rã, cô gái này lần theo dấu vết, tìm cơ hội báo thù, tận mãi đến năm 1935, khi Tôn Truyền Phương đang tụng kinh tại một Phật đường, Thi Kiếm Kiều lẻn vào và nổ 3 phát súng.

Gây án xong, cô gái không bỏ trốn mà đứng ngay ở hiện trường, phát tờ rơi giải thích nguyên do sự việc, trên tờ rơi có điểm chỉ và ký tên “Con gái báo thù”! Toà án các cấp Trung Hoa Dân quốc tuyên cô gái án 11 năm tù, nhưng trước sức ép dữ dội của dư luận, cuối cùng thì, toàn án tối cao Nam Kinh phải ban lệnh ân xá. Nếu là thời đại bây giờ thì không ai khuyến khích kiểu hành động như vậy, nhưng trong một xã hội loạn lạc, nhiễu nhương như thời Dân quốc, thì quần chúng có xu hướng cho rằng hành động báo thù như vậy là hợp với lẽ phải, hợp với đạo hiếu. Cuộc đời của cô gái Thi Kiếm Kiều này là nguồn cảm hứng cho rất nhiều phim ảnh, kịch nghệ về sau.

gốm và sứ

Sản phẩm nặn ra được đem đi nung lần thứ nhất với nhiệt độ dưới 1000°C, kết quả là một loại gốm chất lượng chưa cao, còn xốp và thấm nước! Lợi dụng sự thấm nước này, hoạ sĩ dùng loại mực gốc dầu (oil based) vẽ những nét phác hoạ trên mặt gốm, loại mực dầu này tạo thành những vùng tách biệt, ngăn không cho nước loang ra.

Sau đó dùng các kỹ thuật màu nước (water color) để hoàn thành bức hoạ với các vùng có màu sắc, độ đậm nhạt khác nhau! Một lớp men được phun lên bề mặt (men thực chất là một hỗn hợp gần giống kính, cơ bản là SiO2 và Al2O3). Sản phẩm được đem đi nung lần thứ hai với nhiệt độ trên 1200°C, tạo ra thành phẩm sứ chất lượng cao sau cùng!

cứu hoang bản thảo

Chu Định vương – Chu Túc là con trai thứ 5 của Chu Nguyên Chương và Mã hoàng hậu. Do có quan hệ tốt với anh của mình, Vĩnh Lạc đế – Chu Đệ, nên Chu Túc sống sót qua các giai đoạn thanh trừng và đấu đá đẫm máu đầu thời Minh, và dù cũng phải chịu một số khổ nạn, song vị Vương gia này tương đối được biệt đãi, phong đất ở Hàng Châu, Khai Phong, những lãnh địa giàu có nhất TQ. Khác với các vương gia khác, đấu đá chính trị kịch liệt, và hoàn toàn khác với hình ảnh các phim cổ trang đã cố vẽ ra cho chúng ta xem, Chu Túc dành phần lớn thời gian trồng cây, nghiên cứu y thuật và viết sách!

Cứu hoang bản thảo (救荒本草) – tạm dịch là “Các loài cây cứu đói” là công trình để đời của Chu Định vương! Sách liệt kê 414 loại thảo mộc có thể dùng làm thực phẩm khi mất mùa, đói kém. Theo lời đề tựa sách, đích thân một vị vương gia tự tay trồng cây, tự nghiên cứu tìm hiểu, và hoàn toàn khác với những sách vở trước đó, có 276 loại cây chưa từng được sách nào nhắc đến. Mục đích của cuốn sách chỉ đơn giản là: khi xảy ra mất mùa, đói kém, thì tìm những loại cây gì có thể ăn được, trồng loại cây ngắn ngày nào để nhanh chóng cứu đói. Các nhà sinh học, nông học hiện đại đánh giá rất cao sách này!

Sách có nhiều kiến thức hữu ích đến tận thời hiện đại! Bắt đầu từ “Cứu hoang bản thảo”, một cuốn sách xuất bản 700 năm trước, đã có cả một “phong trào cứu đói” ra đời, nhiều tác giả đời sau tiếp tục soạn sách và bổ sung nhiều loại cây có thể dùng làm thực phẩm: Cứu hoang dã phổ – Vương Bàn, Thực vật bản thảo – Lô Hòa, Dã thái bác lục – Bảo San, Như thảo thiên – Chu Lý Tĩnh, v.v… Chẳng trách người TQ ăn rất nhiều thứ lạ, cái gì họ cũng ăn. Suốt hàng chục năm, chúng ta coi vô số phim lịch sử, cổ trang TQ, nhưng vẫn éo hiểu và học được cái gì về văn hóa của họ, cứ như… “gió vào nhà trống” vậy!

sericulture

Nước bốn nghìn năm, nôi cổ sơ,
Cỏ cây quen thuộc đến bây giờ.
Nơi vua cày ruộng, quan trồng lúa,
Công chúa làm nương và dệt tơ!

Ta đã biết là người Trung Quốc từ nhiều ngàn năm trước trồng dâu, nuôi tằm, dùng kén tằm để kéo thành tơ, từ tơ dệt thành lụa. Không cần phải nói, đây là phát minh to lớn đến thế nào, một thời người ta đã chưng diện, thời trang là lượt rồi, thì đâu đó vẫn có tộc người đóng khố làm từ vỏ cây. Họ còn có một phát minh nữa, nuôi một loại côn trùng (Ericerus pela) trên cây tần bì hay cây nữ trinh chúc, kén của loại trùng này được nấu thành bạch lạp (sáp) và làm thành nến!

Và họ đã đạt đến quy mô công nghiệp, sản xuất hàng trăm ngàn tấn (thậm chí có thể lớn hơn) mỗi năm, ở thời điểm từ cả ngàn năm trước. Trước tôi đã viết một bài Bạch lạp truyền kỳ nói về cái phát minh kỳ diệu này. Một phát minh đã làm thay đổi xã hội theo một cách vô cùng sâu rộng, sản xuất được nến với quy mô công nghiệp cũng có nghĩa là: có thêm nhiều người thắp đèn đọc sách, thập niên đăng hỏa, nâng cao dân trí (hoặc là có thêm nhiều người thức đêm đánh bạc)!

Một phát minh dạng “sericulture” nữa, tuy không xuất phát từ Trung Quốc, nhưng đã được người TQ du nhập từ thế kỷ 16, đó là nuôi một loài rận (cochineal) nuôi cấy trên thân cây xương rồng, kén của loại rận này sản sinh ra một loại phẩm màu (pigment) rất đẹp, tông màu có thể từ đỏ tươi cho đến tím sẫm. Màu cochineal ngày nay là một ngành công nghiệp trị giá đến 35 tỷ đô mỗi năm, loại màu đỏ – tím được dùng trong vô số các sản phẩm: son môi, màu thực phẩm, etc…

đồng bào

Trước tôi có đề cập đến những cụm từ đồng âm, đọc như nhau, nhưng viết khác nhau, và nghĩa hoàn toàn khác nhau, ví dụ như: phong hóa – 丰化, phong hóa – 风化, cái “phong hóa” đầu là “phong tục, giáo hóa”, và cái “phong hóa” sau nghĩ là bị biến đổi, bào mòn bởi thời gian, khí hậu. Một cụm từ nữa: chiết suất – 折率, tiếng Trung hiện đại dùng “trọng chiết suất – 重折率” để chỉ thuộc tính bẻ cong ánh sáng của những dạng vật chất thấu quang khác nhau (birefringence).

Còn “chiết xuất – 析出” là chỉ các phương pháp phân tách các thành phần hóa học. Đồng bào – 同胞: chung một bào thai, chỉ anh em ruột, không phải là “phát minh” của người Việt với sự tích Lạc Long Quân – Âu Cơ mà nguyên gốc đã như thế! Còn “đồng bào – 同袍“: mặc chung một chiến bào, ám chỉ tình đồng đội, lấy từ Thi kinh – Tần ca: Khởi viết vô y, Dữ tử đồng bào. Phim cổ trang rất nổi gần đây: Sao lại nói rằng không có áo? Tôi với anh mặc chung một bức chiến bào!

ngôn quan

Tại sao nhà Minh diệt vong? Tại sao sử gia, các nhà nghiên cứu ngày nay đều đồng ý rằng Minh triều là một trong những triều đại hủ bại nhất lịch sử TQ. Lý do thì có nhiều, nhưng theo quan điểm của tôi, lý do quan trọng nhất là do… “nói đằng mồm”, lời nói không có hành động hay giá trị bảo chứng, tệ hơn nữa, nói trở thành một thói “đĩ miệng” hòng lừa bịp người khác. Nhưng trước hết, ta điểm qua vai trò của cái gọi là “Ngôn quan – quan nói” trong lịch sử TQ.

Từ xưa, Ngự sử, hay Ngự sử đài là vị trí… dưới một người, trên vạn người, nhiệm vụ là giám sát các quan lại, giám sát cả… Hoàng đế. Hàng ngày hoàng thượng sinh hoạt như thế nào, nói câu gì đều có Ngự sử ghi chép lại! Có một bậc “gia sư” ngày ngày chăm chăm đi xem thằng “học trò” nói và làm có nghiêm hay không, thật đúng là một cảm giác bất tiện, nếu không muốn nói là vô cùng khổ sở. Các triều đại TQ đặt ra rất nhiều vị trí “Ngôn quan” chỉ để can gián hoàng đế.

Thời xa xưa khi cuộc sống, xã hội còn đơn giản, thì “ngôn quan” thường là có ích. Đến khi xã hội phát triển, con người trở nên phức tạp, thì “ngôn quan” không còn “đơn thuần” như trước. Học được nhiều từ ngữ mới, ngôn quan trở thành công cụ trí trá, phục vụ lợi ích bè cánh và cá nhân, hơn là vun vén lý tưởng của xã hội. Các đời hoàng đế nhà Minh, từ Thiên Thuận, Thành Hoá, Hoằng Trị, Chính Đức, Gia Tĩnh, Long Khánh, Vạn Lịch… đều theo một khuôn mẫu y nhau!

Khi còn trẻ, các vị hoàng đế này đều tương đối anh minh, chăm lo chính sự. Nhưng về sau đều bỏ bê triều chính, chỉ ham ăn chơi hưởng lạc. Nhiều đời hoàng đế lặp lại một khuôn mẫu y vậy, nguyên nhân là do đâu!? Nguyên nhân trực tiếp chính là các “ngôn quan”, những vị hàng ngày chăm chăm gởi tấu sớ, ý kiến về đủ mọi vấn đề. Tấu sớ của họ chất thành đống, khi các hoàng đế còn trẻ vẫn còn cố gắng đọc, đến lúc quá nhiều, quá mệt mỏi đành buông xuôi!

Như Minh Vũ Tông, nhìn chồng tấu sớ xếp tới tận trần nhà, bực mình quát: “Ta nuôi các ngươi để làm gì? Có mấy việc vặt thế này bắt ta làm hay sao?” Thế rồi bỏ bê công việc, không muốn làm nữa, vì thực ra là quá nhiều, không làm xuể. Đó là mặt trái của “ngôn quan”, nói toàn lời hay ý đẹp, mục đích cao cả… nhưng thực chất đều là đấu đá chính trị và quyền lợi phe phái, cá nhân mà thôi. Khi ngôn từ đã trở thành kiểu xảo thuật chính trị và tư lợi, thì nói nhiều vô ích!

Chuyện một vương triều sụp đổ, dĩ nhiên do rất nhiều lý do, căn bản vẫn là do nội tại, mâu thuẫn lợi ích tích tụ, sự phân chia tài sản mất cân đối giữa tầng lớp cai trị và đông đảo dân chúng .v.v… Nhưng nguyên nhân trực tiếp là do “cái miệng” mà ra, ưa nói những lời có cánh, hoa mĩ, nhưng che dấu sự bất chính, lưu manh ở đằng sau. Các hoàng đế Minh triều, trung và hậu kỳ đều có một “mẫu số chung” này, cuối cùng vẫn không đấu lại thói “đĩ miệng” của đám ngôn quan!

smith

Ngộ dĩ vãng chi bất gián, Tri lai giả khả truy…
悟已往之不諫,知來者可追。。。

Nhân facebook nhắc lại ngày này năm trước… Lảm nhảm cuối tuần, họ (family name) phổ biến nhất của người Anh là Smith, vì sao như vậy!? Quay trở lại 1000 năm trước, xã hội Anh phần lớn vẫn chưa có họ, về khoản này, người Anh chậm hơn TQ đến hơn 1500 năm! Khi xã hội nảy sinh nhu cầu phải có họ: phải định danh, ghi chép, làm sổ sách, hóa đơn, kế toán, thu thuế…

Đơn giản nhất chính là lấy luôn nghề nghiệp làm họ: blacksmith, whitesmith, brownsmith, silversmith, goldsmith, tinsmith, bladesmith, arrowsmith, gunsmith, swordsmith, locksmith, pewtersmith, coinsmith, etc… ví dụ như “John (the) Smith”, tức là: John thợ rèn. Một xã hội vận hành theo định hướng nghề nghiệp chuyên môn hóa và trình độ phát triển ngày càng sâu.

Đó là tiền đề để nước Anh bước vào kỷ nguyên công nghiệp hóa. Để xây cái nền tảng đó mất không ít hơn… 500 năm. Cũng như TQ mấy chục năm qua vậy, trở thành “công xưởng” của toàn thế giới không phải chuyện đơn giản, tất cả xây dựng trên nền tảng văn hóa nhiều ngàn năm. Loay hoay làm cái này, sửa cái kia, làm bàn ghế trong nhà, đóng chiếc xuồng chèo đi chơi, etc…

Đó vừa là công việc mang tính giải trí, vừa thể hiện nhu cầu có thật của bản thân. Khi con người ta thực sự làm một công một việc, thì công việc đó sẽ quay trở lại, làm thay đổi con người, xây dựng nên tính cách, phẩm chất, giá trị. Thành ngữ phương Tây có câu: con người xây nên căn nhà, và rồi, căn nhà xây nên con người! Chỉ sợ những loại… gì cũng “làm” mà éo thấy con người thay đổi!